PHÁP LUẬT & BẢN QUYỀN

Một số tình huống khi chuyển nhượng Quyền Sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu

Cập nhật: 23/2/2021 | 10:03:47 PM

(PLBQ). Quyền Sở hữu công nghiệp là gì, làm thế nào để thực hiện và hoàn tất một giao dịch, chuyển nhượng Quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu?

Quyền Sở hữu công nghiệp là gì?

Theo Khoản 4, Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19/06/2009 và Luật số 42/2019/QH14 ngày 14/06/2019) (sau đây gọi tắt là “Luật SHTT”), Quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Nhãn hiệu là gì?

Theo Khoản 16, Điều 4 của Luật SHTT: Nhãn hiệu (NH) là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. NH bao gồm năm loại: NH thông thường, NH tập thể, NH chứng nhận, NH liên kết và NH nổi tiếng. Trong phạm vi bài viết này tác giả giới hạn ở NH thông thường.

Chuyển nhượng Quyền SHCN là gì?

Theo Khoản 1, Điều 138 của Luật SHTT: Chuyển nhượng Quyền SHCN là việc chủ sở hữu Quyền SHCN chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác.

NH là một trong những đối tượng của Quyền SHCN, không giống như Quyền tác giả là tự động bảo hộ kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định mà NH muốn được bảo hộ phải trải qua thủ tục đăng ký hay còn gọi là thủ tục xác lập quyền sở hữu tại Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (NOIP). Theo đó, chuyển nhượng Quyền SHCN đối với NH có giá trị pháp lý khi được ghi nhận bởi NOIP.

Chuyển nhượng Quyền SHCN đối với NH sẽ phát sinh những tình huống nào?

Từ thực tiễn hành nghề Dịch vụ Đại diện SHCN tại Việt Nam tác giả nhận thấy phát sinh những tình huống khi chuyển nhượng Quyền SHCN đối với NH.

Tình huống 1: Chuyển nhượng Quyền SHCN đối với NH mà NH được chuyển nhượng tương tự gây nhầm lẫn với Tên thương mại của bên chuyển nhượng.

Ví dụ minh họa:

(Nguồn: Thư viện Số về SHCN của NOIP, chỉ sử dụng nhằm mục đích nghiên cứu)

Yếu tố chữ “Việt Thái An” là một phần cấu tạo nên NH nhưng đồng thời cũng là tên thương mại của Chủ sở hữu NH. Khi đó chuyển nhượng NH sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ. Để được ghi nhận chuyển nhượng NH thì có thể thực hiện một trong các giải pháp sau:

- Chủ sở hữu NH tiến hành giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp, hoặc

- Chủ sở hữu NH tiến hành thay đổi tên doanh nghiệp tại Cơ quan đăng ký kinh doanh theo hướng thay đổi/loại bỏ chữ “Việt Thái An” ra khỏi tên doanh nghiệp, hoặc

- Chủ sở hữu NH tiến hành thay đổi ngành nghề kinh doanh tại Cơ quan đăng ký kinh doanh theo hướng loại bỏ những ngành nghề kinh doanh liên quan đến danh mục hàng hóa, dịch vụ mang NH đã được bảo hộ, hoặc

- Chứng minh Chủ sở hữu NH và bên được chuyển nhượng NH có mối quan hệ pháp lý, thí dụ cùng Người đại diện theo pháp luật, hoặc

- Thỏa thuận một bên sản xuất hàng hóa, bên còn lại có nhiệm vụ thương mại hóa hàng hóa.

Tình huống 2: Chuyển nhượng Quyền SHCN đối với NH mà NH được chuyển nhượng tương tự gây nhầm lẫn với NH khác đang được bảo hộ vẫn thuộc sở hữu của bên chuyển nhượng.

Ví dụ minh họa:

(Nguồn: Thư viện Số về SHCN của NOIP, chỉ sử dụng nhằm mục đích nghiên cứu)

Hai NH nêu trên trùng danh mục hàng hóa và yếu tố chữ “Việt Nhật” tương tư gây nhầm lẫn. Khi đó nếu chỉ chuyển nhượng một trong hai Văn bằng NH sẽ vi phạm nguyên tắc quy định tại Khoản 4, Điều 139 của Luật SHTT: Việc chuyển nhượng quyền đối với NH không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ mang NH.

Để có thể chuyển nhượng một trong hai Văn bằng NH cho tổ chức/cá nhân khác thì phải đồng thời chuyển nhượng Văn bằng NH còn lại hoặc Chủ sở hữu NH rút/tuyên bố từ bỏ quyền đối với Văn bằng NH chưa được chuyển nhượng.

Tình huống 3: Chuyển nhượng Quyền SHCN đối với NH mà NH được chuyển nhượng tương tự gây nhầm lẫn với NH đang được thẩm định để cấp Văn bằng cũng của bên chuyển nhượng.

Ví dụ minh họa:

(Nguồn: Thư viện Số về SHCN của NOIP, chỉ sử dụng nhằm mục đích nghiên cứu)

Danh mục hàng hóa, dịch vụ mang hai NH nêu trên tương tự nhau và NH cũng tương tự gây nhầm lẫn.

Để có thể chuyển nhượng Văn bằng NH theo đăng ký số 356313  cho tổ chức/cá nhân khác thì phải đồng thời chuyển nhượng đơn số 4-2019-50421 hoặc Chủ đơn tuyên bố rút đơn số 4-2019-50421.

Tình huống 4: Chuyển nhượng Quyền SHCN đối với NH mà NH được chuyển nhượng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc xuất xứ.

Ví dụ minh họa:

(Nguồn: Thư viện Số về SHCN của NOIP, chỉ sử dụng nhằm mục đích nghiên cứu)

“Mường Khương” thể hiện trong mẫu NH là một huyện của tỉnh Lào Cai. Do đó, theo quy định của pháp luật về SHTT thì đây là tên địa danh.

Văn bằng NH này được ghi nhận chuyển nhượng cho tổ chức/cá nhân khác khi tổ chức/cá nhân đó có địa chỉ tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

Tình huống 5: Chuyển nhượng Quyền SHCN đối với NH mà NH được chuyển nhượng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa.

Ví dụ minh họa:

(Nguồn: Thư viện Số về SHCN của NOIP, chỉ sử dụng nhằm mục đích nghiên cứu)

Mẫu NH chứa tên Chủ sở hữu NH nên có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa khi được chuyển nhượng.

Để có thể chuyển nhượng Văn bằng NH này cho tổ chức/cá nhân khác thì Chủ sở hữu NH phải sửa đổi Văn bằng NH theo hướng loại bỏ tên đầy đủ của Chủ sở hữu NH trên mẫu NH sao cho không còn gây ấn tượng rằng hàng hóa mang NH do Chủ sở hữu NH cung cấp.

Trên đây là một số tình huống phát sinh khi chuyển nhượng Quyền SHCN đối với NH. Tác giả hy vọng rằng bài viết này sẽ hữu ích cho các bên khi tiến hành chuyển nhượng Quyền SHCN đối với NH.

Tác giả: Hồng Quân

(Từ MasterBrand, VCOP)

Banner Toan trang_Hoi nhap quoc te_VCOP
Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!
Tin cùng chủ đề